Các bệnh khác

Có thể ngăn ngừa bệnh chàm? Những yếu tố nguy cơ và cách giảm thiểu chúng

Bệnh chàm, hay thường được gọi là viêm da dị ứng, là một tình  trạng da phổ biến với da trở nên đỏ, khô, đóng vảy và ngứa. Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi có xu hướng bị chàm trên mặt, đặc biệt  là trên má và quanh miệng, cũng như khuỷu tay và đầu gối. Bệnh  chàm thường cải thiện qua thời thơ ấu nhưng có thể tiếp tục đến  tuổi trưởng thành. Người ta ước tính rằng khoảng 20% trẻ em  trên toàn thế giới bị bệnh chàm (1). 

Khi tỷ lệ mắc bệnh chàm tiếp tục gia tăng, đặc biệt là ở các nước  phát triển, nhiều bậc cha mẹ tự hỏi liệu họ có thể thực hiện bất  kỳ bước nào để ngăn ngừa con mình phát triển bệnh chàm (2). Trong chương này, chúng ta đi sâu vào vai trò của di truyền và  môi trường đối với bệnh chàm và những chiến lược mà cha mẹ có thể làm theo giúp giảm nguy cơ và mức độ nghiêm trọng của  bệnh chàm ở con họ.

Vai trò của di truyền 

Các nghiên cứu cho thấy di truyền đóng một vai trò quan trọng  trong sự phát triển của bệnh chàm. Đầu tiên, trẻ em có cha hoặc  mẹ bị bệnh chàm có nguy cơ cao bị bệnh chàm (3). Tương tự,  trẻ em có bố hoặc mẹ bị hen suyễn hoặc viêm mũi dị ứng (còn  gọi là hay-fever) có nguy cơ mắc bệnh chàm cao hơn (4). Xem  xét kỹ hơn, chúng ta biết da hoạt động như một hàng rào không  thấm nước, bảo vệ cơ thể chúng ta khỏi thế giới bên ngoài 

Một số đột biến trong gen của chúng ta có thể dẫn đến sự thay  đổi và phá vỡ hàng rào bảo vệ da tự nhiên này. Điều này sau đó  có thể dẫn đến mất nước, xuất hiện vi khuẩn gây hại, viêm da và  cuối cùng là bệnh chàm. Cụ thể hơn, filaggrin là một loại protein  thường được tìm thấy trong da và đóng một vai trò quan trọng  trong việc tạo ra và duy trì hàng rào bảo vệ da tự nhiên của chúng  ta. Các đột biến trong gen tạo ra filaggrin đã được tìm thấy ở nhiều người bị bệnh chàm (5,6).

Tự nhiên vs. Nuôi dưỡng 

Di truyền học biểu sinh đề cập  đến vai trò của môi trường  trong việc tác động đến việc  cơ thể chúng ta có biểu hiện  các kiểu gen dẫn đến một số bệnh hay không. Các gen mà  con cái thừa hưởng từ cha mẹ 

của chúng có thể khiến chúng  phát triển bệnh chàm, nhưng  các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến sự phát triển  thực sự của bệnh chàm. 

Do đó, có nhiều yếu tố khác  bên ngoài cấu tạo di truyền  của chúng ta đóng một vai trò  trong việc liệu một đứa trẻ có  bị chàm hay không. Một số yếu tố nguy cơ bắt đầu trước  khi đứa trẻ được sinh ra. Các  nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự 

nhạy cảm hoặc tiếp xúc của  chính người mẹ trong thời kỳ mang thai có thể đóng một vai  trò nào đó (7). Ví dụ, nếu một  người mẹ bị dị ứng với môi  trường hoặc thực phẩm nhất  định thêm vào việc bị khiếm  khuyết gen filaggrin, thì nguy  cơ phát triển bệnh chàm của  con cô ấy sẽ cao hơn (8). 

Tiếp xúc với thuốc lá và rượu  trong thời kỳ mang thai không  được khuyến khích vì nhiều lý  do, một trong số đó là làm tăng  nguy cơ mắc bệnh chàm ở trẻ 

em (9,10). Mặc dù có rất nhiều  quan tâm đến vai trò của chế độ ăn uống của phụ nữ trong thời  kỳ mang thai, nhưng chúng tôi  hiện chưa có đủ bằng chứng  cho thấy việc tránh một số loại  thực phẩm mang lại bất kỳ lợi  ích nào trong việc ngăn ngừa  bệnh chàm ở trẻ em (11). Cũng  có bằng chứng mâu thuẫn về 

việc liệu việc cho con bú có bảo  vệ được hay không (11).

Dị ứng thực phẩm và bệnh chàm 

Trẻ bị chàm có tỷ lệ dị ứng thức  ăn cao hơn. Do đó, nhiều bậc  cha mẹ loại bỏ một số loại thực  phẩm khỏi chế độ ăn uống của  con mình với hy vọng ngăn  ngừa dị ứng thực phẩm. Tuy  nhiên, bằng chứng gần đây cho  thấy rằng trẻ em được làm quen  với các loại thực phẩm khác  nhau trong giai đoạn đầu đời  thực sự có tỷ lệ mắc bệnh chàm  thấp hơn (12-14). 

Một nghiên cứu gần đây cho  thấy rằng trẻ em bị chàm được  cho ăn đậu phộng trong độ tuổi  từ 4 đến 11 tháng có tỷ lệ phát  triển dị ứng đậu phộng thấp  hơn so với những trẻ tránh  hoàn toàn đậu phộng (15). 

Điều này cho thấy rằng ngay cả những trẻ đã mắc bệnh chàm  cũng có thể được hưởng lợi từ việc tiếp xúc sớm với các loại  thực phẩm khác nhau (15). Tiếp xúc với thức ăn sớm cho  phép hệ thống miễn dịch của  trẻ sơ sinh xác định thực phẩm gây dị ứng là không đe dọa và  do đó xây dựng khả năng dung  nạp miễn dịch với nó, ngăn  ngừa phản ứng dị ứng khi  chúng tiếp xúc với cùng loại chất gây dị ứng sau này (15). Việc cho trẻ ăn thức ăn sớm tất  nhiên bị giới hạn bởi thời điểm  trẻ sơ sinh phát triển sẵn sàng  để ăn thức ăn đặc.

Hệ vi sinh vật trên da 

Một yếu tố quan trọng khác  trong sự phát triển của bệnh  chàm mà gần đây được rất  nhiều người quan tâm là hệ vi  sinh vật trên da. Đây là tập hợp  các vi khuẩn vô hại tự nhiên  sống trên da của chúng ta.  Chúng thực hiện nhiều công  việc quan trọng, bao gồm giúp  chống lại vi khuẩn có hại và  giúp giữ cho hệ thống miễn  dịch của chúng ta luôn kiểm  soát, để tránh phát triển bệnh  chàm (16-18). 

Điều thú vị là các nghiên cứu  đã chỉ ra rằng trẻ em bị bệnh  chàm có các loại vi khuẩn khác  nhau tạo nên hệ vi sinh vật trên  da của chúng (19,20). Các nhà  khoa học suy đoán rằng yếu tố này là nguyên nhân một phần  gây ra bệnh chàm (21). 

Do đó, men vi sinh gần đây đã  được đề xuất như một công cụ để giảm nguy cơ phát triển bệnh  chàm. Các bằng chứng ban đầu cho  thấy rằng những bà mẹ dùng men  vi sinh lactobacilli trong khi mang  thai có thể giúp ngăn ngừa bệnh  chàm ở trẻ sơ sinh, và trẻ sơ sinh và  trẻ em dùng men vi sinh  lactobacilli có thể có tỷ lệ mắc  bệnh chàm thấp hơn (22,23). 

Men vi sinh có thể giúp ngăn ngừa  bệnh chàm bằng cách thay đổi hệ vi sinh vật của ruột, từ đó thay đổi  hàng rào của ruột. Vì các thực  phẩm gây dị ứng khác nhau vượt  qua hàng rào ruột thay đổi, trẻ sơ sinh và bà mẹ tiếp xúc với các chất  gây dị ứng khác nhau có thể làm  thay đổi hệ thống miễn dịch và  nguy cơ mắc bệnh chàm (23). Tuy  nhiên, cần có các nghiên cứu sâu  hơn trước khi có thể khuyến nghị 

sử dụng men vi sinh để ngăn ngừa  bệnh chàm.

Kết luận 

May mắn thay, có những bước bạn có thể làm với tư cách là cha  mẹ để giúp bảo vệ con bạn và giúp giảm thiểu nguy cơ phát triển  bệnh chàm. Một bước quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh  chàm là sử dụng thường xuyên các chất làm mềm, hoặc kem  dưỡng ẩm cho trẻ sơ sinh. Bằng chứng cho thấy trẻ sơ sinh có  nguy cơ cao mắc bệnh chàm, nhưng được cha mẹ bôi kem dưỡng  ẩm thường xuyên trong vài tháng đầu đời, tỷ lệ mắc bệnh chàm  thấp hơn so với những trẻ không bôi kem dưỡng ẩm (24). Sử dụng kem dưỡng ẩm ngay cả trước khi bệnh chàm xuất hiện có  thể giúp sửa chữa sớm các đứt gãy trong hàng rào da được tìm  thấy ở bệnh chàm trước khi xuất hiện các triệu chứng như mẩn  đỏ, da khô hoặc ngứa, xem tiếp chương 3. 

Tóm lại, mặc dù hiện tại chúng ta không có cách nào để loại bỏ sự phát triển bệnh chàm ở trẻ em, nhưng chúng ta có thể thực  hiện các bước để giảm nguy cơ phát triển bệnh chàm.

  1. Asher MI, Montefort S, Bjorksten B, et al. Worldwide time trends in the prevalence of  symptoms of asthma, allergic rhinoconjunctivitis, and eczema in childhood: ISAAC Phases  One and Three repeat multicountry cross-sectional surveys. Lancet. 2006;368(9537):733- 743. 
  2. Deckers IA, McLean S, Linssen S, Mommers M, van Schayck CP, Sheikh A.  Investigating international time trends in the incidence and prevalence of atopic eczema  1990-2010: a systematic review of epidemiological studies. PLoS One. 2012;7(7):e39803. 
  3. Dold S, Wjst M, von Mutius E, Reitmeir P, Stiepel E. Genetic risk for asthma, allergic  rhinitis, and atopic dermatitis. Arch Dis Child. 1992;67(8):1018-1022. 
  4. Parazzini F, Cipriani S, Zinetti C, et al. Perinatal factors and the risk of atopic dermatitis:  a cohort study. Pediatr Allergy Immunol. 2014;25(1):43-50. 
  5. Bisgaard H, Simpson A, Palmer CN, et al. Gene-environment interaction in the onset of  eczema in infancy: laggrin loss-of-function mutations enhanced by neonatal cat exposure.  PLoS Med. 2008;5(6):e131. 
  6. Brown SJ, McLean WH. One remarkable molecule: laggrin. J Invest Dermatol.  2012;132(3 Pt 2):751-762. 
  7. Vaughn AR, Tannhauser P, Sivamani RK, Shi VY. Mother Nature in Eczema: Maternal  Factors In uencing Atopic Dermatitis. Pediatr Dermatol. 2017;34(3):240-246. 
  8. Esparza-Gordillo J, Matanovic A, Marenholz I, et al. Maternal laggrin mutations increase  the risk of atopic dermatitis in children: an e ect independent of mutation inheritance. PLoS  Genet. 2015;11(3):e1005076. 
  9. Schafer T, Dirschedl P, Kunz B, Ring J, Uberla K. Maternal smoking during pregnancy  and lactation increases the risk for atopic eczema in the o spring. J Am Acad Dermatol.  1997;36(4):550-556. 
  10. Wada K, Konishi K, Tamura T, Shiraki M, Iwasa S, Nagata C. Alcohol Intake During  Pregnancy and O spring’s Atopic Eczema Risk. Alcohol Clin Exp Res. 2016;40(5):1037- 1043. 
  11. Kramer MS, Kakuma R. Cochrane in context: Maternal dietary antigen avoidance during  pregnancy or lactation, or both, for preventing or treating atopic disease in the child. Evid  Based Child Health. 2014;9(2):484-485. 
  12. Bath-Hextall FJ, Jenkinson C, Humphreys R, Williams HC. Dietary supplements for  established atopic eczema. Cochrane Database Syst Rev. 2012(2):CD005205. 
  13. Romieu I, Torrent M, Garcia-Esteban R, et al. Maternal sh intake during pregnancy and  atopy and asthma in infancy. Clin Exp Allergy. 2007;37(4):518-525.
  14. Sausenthaler S, Koletzko S, Schaaf B, et al. Maternal diet during pregnancy in relation  to eczema and allergic sensitization in the o spring at 2 y of age. Am J Clin Nutr.  2007;85(2):530- 537. 
  15. Du Toit G, Roberts G, Sayre PH, et al. Randomized trial of peanut consumption in  infants at risk for peanut allergy. N Engl J Med. 2015;372(9):803-813. 
  16. Bjorksten B, Sepp E, Julge K, Voor T, Mikelsaar M. Allergy development and the  intestinal micro ora during the rst year of life. J Allergy Clin Immunol. 2001;108(4):516- 520. 
  17. Bra MH, Bardan A, Nizet V, Gallo RL. Cutaneous defense mechanisms by  antimicrobial peptides. J Invest Dermatol. 2005;125(1):9-13. 
  18. Neaville WA, Tisler C, Bhattacharya A, et al. Developmental cytokine response pro les  and the clinical and immunologic expression of atopy during the rst year of life. J Allergy  Clin Immunol. 2003;112(4):740-746. 
  19. Nomura I, Gao B, Boguniewicz M, Darst MA, Travers JB, Leung DY. Distinct patterns  of gene expression in the skin lesions of atopic dermatitis and psoriasis: a gene microarray  analysis. J Allergy Clin Immunol. 2003;112(6):1195-1202. 
  20. Ong PY, Ohtake T, Brandt C, et al. Endogenous antimicrobial peptides and skin  infections in atopic dermatitis. N Engl J Med. 2002;347(15):1151-1160. 
  21. Powers CE, McShane DB, Gilligan PH, Burkhart CN, Morrell DS. Microbiome and  pediatric atopic dermatitis. J Dermatol. 2015;42(12):1137-1142. 
  22. Fiocchi A, Burks W, Bahna SL, et al. Clinical Use of Probiotics in Pediatric Allergy  (CUPPA): A World Allergy Organization Position Paper. World Allergy Organ J.  2012;5(11):148-167. 
  23. Wickens K, Black P, Stanley TV, et al. A protective e ect of Lactobacillus rhamnosus  HN001 against eczema in the rst 2 years of life persists to age 4 years. Clin Exp Allergy.  2012;42(7):1071-1079. 
  24. Simpson EL, Chalmers JR, Hani n JM, et al. Emollient enhancement of the skin barrier  from birth o ers e ective atopic dermatitis prevention. J Allergy Clin Immunol.  2014;134(4):818- 823. 
  25. Wiren K, Nohlgard C, Nyberg F, et al. Treatment with a barrier-strengthening  moisturizing cream delays relapse of atopic dermatitis: a prospective and randomized  controlled clinical trial. J Eur Acad Dermatol Venereol. 2009;23(11):1267-1272.

 Biên dịch: Bs. Trương Tấn Minh Vũ